Cây cà phê có tính thích nghi khá tốt nên nó được trồng nhiều nơi, và nhiều khu vực trên thế giới. Trong hầu hết tất cả các loại hàng hóa trến thế giới thì cà phê không phổ biến như dầu thô hay kim loại. Nhưng đây được xem là một trong những loại nông sản được sử dụng để giao dịch nhiều nhất trên thế giới. Cà phê có thể nằm trong khá nhiều danh mục đầu tư. Từ những hàng hóa được mua vào với mục đích là chống lạm phát. Cho đến những loại hàng hóa được khá nhiều sự ưa chuộng khi mà tình hình USD sụt giảm. Và xuất khẩu cà phê là ngành có trị giá lớn đến 20 tỷ USD. Chính vì thế nghiên cứu tổng quan về thị trường cà phê thế giới là điều không hề dư thừa.
.jpg)

Cách đây hàng ngàn năm, cây cà phê đã được người dân du mục Ethiopi ngẫu nhiên tìm thấy ở làng Cápfa, gần thủ đô Ethiopi. Đến thế kỷ thứ 6, cây cà phê lan dần sang các nước và châu lục khác. Nhưng không phải ngay từ khi bắt đầu cà phê đã được thừa nhận là hấp dẫn và có ích. Cho dù cho đến tại thời điểm này không ai còn phủ nhận chức năng và sự nổi tiếng của loại đồ uống này. Cà phê giúp con người sáng suốt và minh mẫn hơn trong mọi hoạt động. Và được coi như một món tráng miệng, một bữa ăn phụ của nhiều nước trên toàn cầu .
Cà phê có rất nhiều loại không giống nhau. Theo tổng hợp và thống kê, trên thế giới vào thời điểm hiện tại có khoảng 70 loại cà phê đang được trồng và xuất khẩu. Trong đó phổ biến nhất về diện tích trồng. Cũng như nhu cầu cần thiết trên thị trường cà phê toàn cầu là 2 loại cà phê :
Cả hai loại cà phê này, cũng giống như tất cả các kiểu cà phê khác. Đều thuộc giống Coffea tuy nhiên về chất lượng và hương vị thì cà phê Arabica trội hơn cà phê Robusta. Vì lẽ đó cà phê Arabica cũng thường cao hơn khá là nhiều. Và được nhiều nơi ưa chuộng. Vì yêu cầu sinh thái khác nhau. Nên 2 loại cà phê này được trồng tập chung ở những khu vực không giống nhau trên thế giới.

Theo số liệu của công ty cà phê quốc tế ( ICO) vào thời điểm hiện tại. Có khoảng 20 đến 30 nước sản xuất cà phê tập chung trọng điểm vào các khu vực là :
Sắp xếp sản lượng cà phê thế giới theo các khu vực này có thể được tóm tắt như sau: Châu Mỹ sản xuất ra 60 – 70 % sản lượng cà phê toàn cầu. Tức là khoảng gần 4 triệu tấn cà phê nhân. Châu Phi sản xuất ra 20 – 22% khoảng hơn 1 triệu tấn. Châu Á hàng năm sản xuất khoảng 70 ngàn tấn cà phê chiếm 12% sản lượng toàn thế giới. Sản lượng cà phê hàng năm biến động thất thường. Nhưng theo chiều hướng ngày càng tăng.
Thập kỷ 70 sản lượng trung bình đạt 4,5 triệu tấn trên một năm. Thập kỷ 80 tăng nên 5,5 triệu tấn trong một năm. Sang thập kỷ 90 con số đã là 6 triệu tấn một năm. Cho tới nay con số này đã lên tới 6,2 triệu tấn 1 năm.
Nhu cầu tiêu thụ cà phê rất lớn. Hàng năm, lượng tiêu thụ trên thế giới ước tính vào khoảng 94,5 triệu bao cà phê nhân (khoảng 5,6 triệu tấn). Có thể chia các nước tiêu sử dụng cà phê thành bốn nhóm chính theo khu vực địa lý như sau :

Trong số hơn 80 thành viên của công ty cà phê quốc tế (ICO). Có tới hơn 40 nước xuất khẩu cà phê. Các nước này có thể vừa trồng vừa xuất khẩu hoặc chỉ bán hàng cà phê xuất khẩu.
Thế nhưng các nước sản xuất cà phê lớn trên thế giới đều là những nước vừa sản xuất vừa xuất khẩu. Điển hình là các nước như: Brazin, Colombia, nước ta, Uganda, Bờ Biển Nga, Ethiopia, ấn Độ, vv.. Trong đó Brazin và Colombia là các nước sản xuất và xuất khẩu cà phê Arabica trọng điểm trên thế giới. Các nước còn lại của Châu Á và Châu Phi là các nước xuất khẩu cà phê Robusta lớn của toàn cầu .
Theo thực tế, lượng xuất khẩu cà phê hàng năm của các nước chính là cung trên thị trường cà phê toàn cầu. Lượng cung này phụ thuộc rất nhiều yếu tố. Trong đó sản lượng chỉ là một. Ngoài sản lượng, lượng cung cà phê trên thị trường toàn cầu hàng năm còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế của các nước. Chính sách của hiệp hội các nước sản xuất cà phê (ACPC). Và tổ chức cà phê quốc tế (ICO) cũng như biến động nhu cầu giá thành, dự trữ và yếu tố đầu cơ.

Giá cà phê phụ thuộc rất nhiều vào tình hình cung cầu cà phê trên thị trường toàn cầu. Thông thường, để xác lập giá xuất khẩu những người xuất khẩu cà phê thường lấy giá ở những sở giao dịch hàng hoá lớn như ở London, New york, Rotterdam, Asterdam làm chuẩn để xây dựng giá của mình. Giá tại các thị trường này thường phản ánh tương đối chính xác các biến động cung cầu trong từng thời điểm. Xong nó lại mang nặng yếu tố tâm lý nên luôn biến động thất thường.
Nhìn chung giá cà phê thập kỷ 90 có xu thế giảm so với thập kỷ 80. Và bến động phức tạp vì nhiều nguyên nhân. Lý do cơ bản là cung tăng nhanh hơn cầu. Và thị trường cà phê biến thành tự do không có một cơ chế chặt chẽ quản lý một khi hệ thống hạn ngạch của ICO bị huỷ bỏ. Các nước có khả năng về xuất khẩu cà phê có dịp xuất khẩu ồ ạt ra thị trường khiến cho cung tăng nhanh khi nhu cầu tiêu thụ lại ổn định theo xu thế giảm.
Nguồn: Voer.edu.v